
Ở các nước phát triển, tỷ lệ mắc uốn ván hàng năm là 0,1 - 0,2 trường hợp trên 1 triệu dân với tỷ lệ tử vong là 13,2%. Ở các nước đang phát triển, có khoảng 1 triệu trường hợp uốn ván mỗi năm với 300 nghìn đến 500 nghìn ca tử vong. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc uốn ván hàng năm là 1,87 trường hợp trên 100.000 dân với tỷ lệ tử vong dưới 5%. Ở Việt Nam, nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai nhiều năm qua, số ca mắc và tử vong do uốn ván sơ sinh đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên, bệnh vẫn còn ghi nhận rải rác ở người lớn, đặc biệt ở các vùng nông thôn, nơi người dân làm ruộng, làm vườn hay thường xuyên tiếp xúc với đất.
Theo ghi nhận, trong năm 2026, tỉnh Vĩnh Long đã có 11 ca mắc uốn ván, tăng so với cùng kỳ năm 2025. Tuy chưa ghi nhận trường hợp tử vong, nhưng đây là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ bệnh vẫn còn tồn tại trong cộng đồng.
Uốn ván không lây trực tiếp từ người sang người, mà chủ yếu xâm nhập qua vết thương. Sau khi vào cơ thể, vi khuẩn có thể ủ bệnh từ 3 đến 21 ngày. Thời gian ủ bệnh càng ngắn thì bệnh càng nặng. Sau khi nhiễm bệnh, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng như:
Cứng hàm (khó há miệng), Nuốt khó, nói khó, mỏi hàm
Co cứng cơ mặt tạo vẻ mặt “cười nhăn”
Cứng cổ, cứng lưng, người ưỡn cong

Co cứng cơ bụng, cơ tay chân, gây đau đớn
Co giật toàn thân, đặc biệt khi bị kích thích (ánh sáng, tiếng động)
Khó thở, tím tái do co thắt cơ hô hấp – rất nguy hiểm
Có thể kèm theo sốt cao, vã mồ hôi, tim đập nhanh
Đối tượng dễ mắc bệnh gồm:
Người lao động ngoài đồng ruộng, tiếp xúc nhiều với đất, phân súc vật.

Trẻ sơ sinh, đặc biệt khi người mẹ chưa được tiêm phòng uốn ván đầy đủ trong thai kỳ.
Người lớn tuổi chưa từng tiêm vắc xin hoặc không tiêm nhắc lại.
Những người bị vết thương sâu, vết đâm, vết cắt dính đất, kim loại gỉ sét.
Để chủ động phòng bệnh uốn ván, bà con thực hiện tốt các biện pháp sau:
Thứ nhất, tiêm vắc xin đầy đủ và đúng lịch:
Trẻ em cần được tiêm đủ các mũi vắc xin 5 trong 1 hoặc 6 trong 1 (có thành phần uốn ván) theo chương trình tiêm chủng mở rộng.

Phụ nữ mang thai cần tiêm đủ 2 mũi vắc xin phòng uốn ván để bảo vệ cả mẹ và bé khỏi uốn ván sơ sinh.

Người trưởng thành nên tiêm nhắc lại vắc xin uốn ván mỗi 10 năm một lần. Đây là điểm rất nhiều người bỏ quên.
Thứ hai, xử trí vết thương đúng cách:
Rửa vết thương ngay bằng xà phòng và nước sạch, sau đó sát trùng bằng dung dịch y tế.
Không đắp lá, không bôi thuốc không rõ nguồn gốc lên vết thương.
Với vết thương sâu, dính đất bẩn, cần đến cơ sở y tế để được tiêm huyết thanh kháng uốn ván và vắc xin nếu cần.
Ngoài ra, phụ nữ mang thai cần đi khám thai định kỳ, tuân thủ hướng dẫn tiêm phòng để phòng ngừa uốn ván sơ sinh.
Uốn ván là bệnh nguy hiểm nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa được. Vì vậy, mỗi người dân hãy nâng cao ý thức bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình bằng cách tiêm phòng đầy đủ và xử lý vết thương đúng cách.
Mọi người dân khi có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh hoặc có vết thương nguy cơ cao, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn và điều trị kịp thời.
BS. Lý Xuân Nhi – Khoa Truyền thông giáo dục sức khỏe
Trung tâm kiểm soát bệnh tật Vĩnh Long